Liệt sĩ Trần Văn Khôi (còn gọi là Trần Khôi) sinh năm 1947, là con cả trong gia đình có 6 anh chị em, sinh ra và lớn lên ở thôn Bình Phú, xã Hoài Thanh Tây, H.Hoài Nhơn, Bình Định (nay là P.Hoài Nhơn, tỉnh Gia Lai).
Năm 1964, khi mới 16 tuổi, ông Khôi tham gia du kích và bị lộ, được tổ chức đưa lên căn cứ Hoài Châu, gia nhập quân giải phóng, hoạt động ở địa phương.
“Hồi ấy tôi hơn 10 tuổi, nhớ rõ 2 lần anh Khôi theo đơn vị từ trên rừng xuống đồng bằng nhận lương thực, thực phẩm, có tranh thủ ghé về thăm nhà, Năm 1965, gia đình nhận được tin anh hy sinh, đã lập bàn thờ. Nhưng ngay sau đó, anh Khôi về thăm nhà. Đến lúc ấy mới biết là báo tử nhầm sang liệt sĩ Lê Khôi, cũng người trong thôn Bình Phú”, ông Trần Văn Hảo kể lại.
Ngày 6.7.1966, chiến sĩ Trần Văn Khôi (quê quán Hoài Thanh, H.Hoài Nhơn, Bình Định) được Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (khi ấy là Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) ký quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng ba, vì “đã có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước”.
Khoảng cuối năm 1966, do bị thương trong chiến đấu, chiến sĩ Trần Văn Khôi được đưa ra Bắc điều trị, sau đó chọn đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Theo thông tin từ người thân, sau khi tốt nghiệp sĩ quan, quân nhân Trần Văn Khôi nhận quyết định về làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ đi B (chiến trường miền Nam) ở một đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
Ngày 3.12.1971, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba cho thiếu úy Trần Văn Khôi (trong quyết định khen thưởng ghi là Trần Khôi, quê quán ở xã Hoài Thanh, H.Hoài Nhơn, Bình Định) do “đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.
Trong thời gian quân nhân Trần Văn Khôi học tập và công tác ngoài Bắc, gia đình trong miền Nam gặp những biến cố nặng nề, khiến các em phải ly tán.
Tháng 3.1967, đạn pháo của đối phương bắn vào thôn Bình Phú, xã Hoài Thanh Tây, H.Hoài Nhơn, Bình Định (nay là khu phố Bình Phú, P.Hoài Nhơn, Gia Lai) làm nhiều người chết và bị thương. Trong đó, ông bà nội của quân nhân Trần Văn Khôi chết tại chỗ. Mẹ của ông là bà Nguyễn Thị Cấn (sinh năm 1928) bị thương nặng, được đưa xuống bệnh viện ở Quy Nhơn điều trị, nhưng không qua khỏi. Đến tháng 5.1967, bố của quân nhân Trần Văn Khôi là ông Trần Sâm (sinh năm 1927) là cán bộ nông hội thôn Bình Phú, cũng hy sinh (năm 2016, liệt sĩ Trần Sâm được cấp bằng Tổ quốc ghi công – PV).
Mất cả cha lẫn mẹ trong vòng 2 tháng, những người em của quân nhân Trần Văn Khôi được họ hàng đón về nuôi: Ông Trần Văn Hảo (khi ấy 14 tuổi) và bà Trần Thị Minh (khi ấy 4 tuổi) lên sống với chú ruột Trần Trầm ở vùng rừng Đức Trọng, Lâm Đồng; ông Trần Xuân Thanh (khi ấy 9 tuổi) và bà Trần Thị Cảnh (3 tuổi) lên An Khê, Gia Lai ở với gia đình bà cô Trần Khế. Duy nhất em kế ông Khôi là bà Trần Thị Sử (khi ấy 16 tuổi) ở lại nền nhà cũ vẫn còn hố pháo.
Sau ngày đất nước thống nhất 30.4.1975, quân nhân Trần Văn Khôi khoác ba lô về quê rồi dành hết thời gian nghỉ phép để lên Lâm Đồng và Gia Lai tìm lại các em, đưa về quê hương Bình Phú, cắt lá dừa làm lại mái nhà cho các em. Ông Trần Văn Hảo kể lại: “Tôi là con thứ 3 trong gia đình, khi đó 22 tuổi, được anh Khôi tâm sự gửi gắm nhiều nhất trong việc chăm nuôi 3 đứa em sau”.
Theo lời kể của ông Hảo và những người thân, cuối năm 1975, trung úy Trần Văn Khôi chuyển công tác từ Hà Tây vào Vùng 4 Hải quân, đóng quân ở Cam Ranh, Khánh Hòa. Đầu năm 1976, trung úy Khôi xin nghỉ phép, từ Cam Ranh ra thăm nhà và thông báo “tới đây, tháng 3.1976, sẽ ra công tác ngoài đảo Sinh Tồn, Trường Sa. Khoảng 2 năm sau sẽ trở về, chăm sóc nuôi nấng cho các em”.
Trước khi ra nhận nhiệm vụ ngoài Trường Sa, trung úy Trần Văn Khôi để lại cho các em toàn bộ quân tư trang mới cấp phát, lương thực, thực phẩm và cả chiếc mũ cối tặng em trai Trần Văn Hảo. Đặc biệt, trung úy Khôi gửi lại tấm hình chụp ông lúc mới nhận quân hàm trung úy cùng 2 giấy chứng nhận Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng ba và Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Trần Văn Hảo kể: “Sau khi anh Khôi ra Trường Sa, tôi xin đi làm công nhân xây dựng đường sắt để nuôi các em. Thời gian đầu, còn nhận được thư của anh Khôi nhưng từ cuối 1976, không có thông tin gì, cứ nghĩ anh bận công tác ngoài đảo.
Năm 1979, tôi nhập ngũ vào Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 860, Quân khu 5 (năm 1989, Sư đoàn 860 sáp nhập vào Quân đoàn 3 – PV), tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia. Năm 1983 thì tôi xuất ngũ trở về địa phương với quân hàm trung sĩ.
Từ sau khi xuất ngũ năm 1983 cho đến cuối những năm 1990, tôi đã 4 lần ra Cam Ranh tìm vào đơn vị anh Khôi để xin thông tin, hỏi xem anh tôi đang ở đâu.
Các anh cán bộ chính sách hồi ấy đón tiếp, giúp đỡ rà soát rất kỹ, nhưng đều trả lời: Trên giấy tờ sổ sách của Vùng 4 Hải quân, chỉ có liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, quê ở Quy Nhơn, Bình Định, hy sinh tại đảo Sinh Tồn (Trường Sa) năm 1976. Không có ai tên là Trần Văn Khôi hay Trần Khôi, quê ở Hoài Nhơn, Bình Định.
50 năm đã trôi qua, kể từ khi anh Trần Văn Khôi ra đảo Trường Sa làm nhiệm vụ, gia đình không nhận được bất cứ thông tin nào về anh, không biết anh còn sống ở đâu hay đã chết. Chúng tôi là các em, nhưng cũng đều đã già, trên dưới 70 tuổi, không còn sống được bao lâu nữa. Khẩn thiết đề nghị Báo Thanh Niên phản ánh để các cấp, các ngành tìm giúp thông tin về anh Trần Văn Khôi…”. (còn tiếp)
Nguồn: https://thanhnien.vn/50-nam-than-nhan-tim-liet-si-truong-sa-1852606251856092.htm

