Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM vừa công bố bản án vụ tranh chấp giữa ông Hà Quang L. (74 tuổi) và bà Nguyễn Thị P. (67 tuổi, ngụ TP Đồng Nai). Vụ án liên quan đến tranh chấp tài sản chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo hồ sơ vụ án, ông Hà Quang L. và bà Nguyễn Thị P. kết hôn năm 1977. Tháng 8/1980, ông L. chuyển công tác về một trường trung học tại TP Biên Hòa (cũ) và được bố trí ở căn nhà rộng khoảng 30m2 trên khu đất khoảng 500m2, tại phường Tân Hiệp. Đến năm 1984, nhà trường hóa giá căn nhà và giao quyền sử dụng khu đất này cho ông L..
Năm 2000, hai vợ chồng ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn của TAND TP Biên Hòa. Theo ông L., do các con còn nhỏ, thời điểm đó hai bên chưa yêu cầu tòa án giải quyết việc chia tài sản. Ông để lại căn nhà cho vợ cũ và các con tiếp tục sinh sống, còn toàn bộ giấy tờ liên quan do bà P. quản lý.
Khi các con trưởng thành, ông L. nhiều lần đề nghị chia căn nhà và khu đất, nhưng bà P. không đồng ý, cho rằng bà là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong quá trình tòa án thụ lý vụ án, ông L. mới biết năm 2008, UBND TP Biên Hòa đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho mỗi bà P.. Cho rằng đây là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, cuối năm 2018, ông L. khởi kiện, yêu cầu hủy giấy chứng nhận, đồng thời đề nghị được chia một nửa giá trị nhà, đất.
Ở chiều ngược lại, bà P. trình bày rằng, từ ngày 21/6/1994, hai vợ chồng đã lập văn bản thỏa thuận giao toàn bộ nhà, đất và tài sản trên đất cho bà quản lý, đồng thời thống nhất kể từ thời điểm đó, ai vay nợ thì người đó tự chịu trách nhiệm.
Theo bà P., năm 1999, bà đứng tên làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Khi ly hôn vào năm 2000, tòa án cũng ghi nhận việc hai bên tự thỏa thuận về tài sản. Đến năm 2008, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
Xét xử sơ thẩm, TAND tỉnh Đồng Nai bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L., gồm yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chia tài sản chung và hủy hợp đồng thế chấp. Không đồng ý với phán quyết này, ông L. kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L. tiếp tục cho rằng khu đất do nhà trường giao cho ông, nên việc bà P. kê khai nguồn gốc đất là do bà mua là không đúng sự thật. Ông cũng khẳng định văn bản thỏa thuận lập năm 1994 chỉ nhằm tạo điều kiện để bà P. xử lý các khoản nợ, chứ không phải từ bỏ quyền đối với khối tài sản chung.
Tuy nhiên, HĐXX phúc thẩm nhận định, quyết định công nhận thuận tình ly hôn năm 2000 ghi rõ hai bên “tự giải quyết việc chia tài sản”. Trên cơ sở đó, HĐXX phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của ông L., giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nguồn: https://dantri.com.vn/phap-luat/cu-ong-o-dong-nai-kien-vo-cu-doi-chia-tai-san-20260726132707563.htm

